Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Giải mã bí ẩn về bức tranh ma quái 'Cậu bé khóc'

Câu chuyện bí ẩn về lời nguyền ở bức tranh “Cậu bé khóc” xuất hiện khi hàng loạt vụ cháy nhà bí ẩn lan rộng. Mọi vật trong nhà đều cháy rụi, trừ bức tranh.

Bức tranh "Cậu bé khóc" bí ẩn.
Bức tranh "Cậu bé khóc" bí ẩn.
Bức chân dung kỳ lạ “Cậu bé khóc” do họa sĩ Bruno Amadio vẽ được sản xuất hàng loạt và trở nên nổi tiếng trong những năm 80 của thế kỷ trước. Đây cũng là bức chân dung được nhiều người Anh mua nhất trong thời gian đó. Thảm kịch và bất hạnh vẫn tiếp tục bao quanh một bức chân dung kỳ lạ xuất hiện trên khắp nước Anh và trên thế giới.

Đồn đoán về một “lời nguyền”

Họa sĩ Bruno Amadio (1911-1981) là người Scotland chuyển tới Seville (Tây Ban Nha) trong thời kỳ phát xít. Bruno là tác giả của 28 bức tranh chủ đề trẻ em khóc. Các bức tranh thể hiện mọi sắc thái về hình ảnh trẻ em đang khóc với ánh mắt u buồn, đôi khi là sự oán giận. Bức tranh trở nên rất phổ biến và được nhiều người mua ở Anh.

Với người xem tranh, đây là một bức tranh khá bình thường, dù có gì đó phảng phất buồn và u ám. Tuy nhiên những người sở hữu bản copy của nó cho biết khi nhìn vào khuôn mặt của Cậu bé khóc, họ luôn có cảm giác sợ hãi và đau ốm.

Câu chuyện bí ẩn về “lời nguyền” ở bức tranh “Cậu bé khóc” bắt đầu xuất hiện năm 1985, khi hàng loạt các vụ cháy nhà bí ẩn lan rộng tại Anh. Nhưng điều làm những người lính cứu hỏa ngạc nhiên hơn cả là trong tất cả các vụ cháy, mọi vật trong nhà đều cháy rụi chỉ có bức “Cậu bé khóc” vẫn không hề bị ngọn lửa tác động. Rất nhiều người đã gọi cho các tờ báo để khẳng định rằng hỏa hoạn xảy ra sau khi họ mua Cậu bé khóc về. Một câu chuyện điển hình được lan truyền khiến lời đồn càng có cở sở và gây hoang mang cho những người sở hữu “Cậu bé khóc”.

Dora Mann đến từ Mitcham, Surrey là một người đam mê sưu tập tranh. Cô đã mua bức chân dung “Cậu bé khóc” về treo trong phòng tranh của mình. Tuy nhiên, chỉ 6 tháng sau, các bức tranh khác đều bị phá huỷ, trừ bức “Cậu bé khóc”. Thậm chí, cô và chị dâu mình cũng suýt thiệt mạng trong một vụ cháy mà “Cậu bé khóc” là vật duy nhất không bị lửa “hỏi thăm”.

Ngày 7/5/1985, cảnh sát nhận được một cú điện thoại báo cháy của anh Steward khi cảnh sát đến nơi thì ngôi nhà trước mắt họ chỉ còn là một đống đổ nát, thứ duy nhất còn sót lại nguyên vẹn là bức tranh "Cậu bé khóc".

Anh Steward cho biết thêm, khoảng 1 tuần trước khi đám cháy diễn ra, mỗi lần nhìn về phía bức tranh, anh cảm nhận thấy cậu bé trong tranh muốn giãi bày chuyện gì đó, nhưng không thành tiếng, chỉ có những giọt nước mắt cứ mãi lăn dài trên má… "Tôi không nghĩ đó là lời cảnh báo của cậu bé! Tôi không biết liệu có phải bức tranh đã mang đến điềm gở cho tôi (bị cháy nhà) hay giúp tôi thoát chết (anh Steward may mắn thoát ra khỏi nhà khi ngọn lửa bắt đầu bùng lên)" hay không? - anh Steward chia sẻ.

Sự kỳ bí bất tận

Không biết có phải chính những sự kỳ bí đã tạo ra sức hút cho bức tranh "Cậu bé khóc" hay không, nhưng chỉ biết rằng đã có những vụ chết người liên quan tới bức tranh này mà chưa ai có thể đưa ra được một lời giải thích thật thỏa đáng. Trước đây, có một người phụ nữ giàu có mua bức tranh này về, rất thích bức tranh, luôn ngắm nhìn nó. Bỗng một ngày kia người ta thấy bà ta, đập phá đồ đạc trong nhà và la hét kinh hoàng: "Thằng bé đã về rồi, thằng bé đã về rồi...".

Ngay sau đó, người ta đã đưa bà vào nhà thương điên. Và rồi bức tranh đó của người phụ nữ này lại tiếp tục được lưu truyền qua nhiều người: 1 họa sỹ, 1 người thợ may, 1 tỷ phú, 1 nhân viên lập trình,... và tất cả họ đều có tình trạng chung như người đàn bà trên, đều phát cuồng sau khi xem tranh và chỉ sau đó vài ngày là chết.

Kể từ đó bức tranh đã bị người ta vứt đi một nơi nào đó không biết đến. Cách đây 10 năm, bức tranh được cho là bị thất lạc đó lại xuất hiện trở lại. Người ta thậm chí còn tìm cách tiếp tục sao chép nó để bán kiếm lời. Và khi bức tranh "quay trở lại" thì tình trạng như trên lại diễn ra, đã khiến cho nhiều người bị rơi vào tình trạng hoảng loạn.

Trước tình hình trên, thành London đã dành hẳn một ngày để đốt tất cả các bản sao “Cậu bé khóc”. Hàng nghìn bức tranh bị tiêu huỷ dưới sự giám sát của Cục cứu hỏa. Mặc dù vậy, nhiều bản sao khác của bức tranh vẫn còn tồn tại và tin tức về các vụ cháy vẫn tiếp tục xuất hiện, các vụ chết người không rõ nguyên nhân vẫn xôn xao dư luận và lan truyền lời đồn về bức chân dung kỳ lạ bị nguyền rủa.

Các phương tiện truyền thông đã phải trấn tĩnh người dân rằng, trường hợp các bức “Cậu bé khóc” thoát khỏi hỏa hoạn chỉ là hy hữu và việc bức tranh có mặt trong các vụ hỏa hoạn chỉ là trùng hợp mà thôi. Một người phụ nữ cho biết cô đã cố đốt bức tranh của mình nhưng mọi nỗ lực đều thất bại.

Có một số quan điểm lại cho rằng bức tranh chẳng hề đem điềm gở nào. Nó đem lại may mắn cho người xứng đáng. Một người đàn ông kể rằng ông bất ngờ thắng bạc sau khi phục chế được bức tranh đang xuống cấp.

Thế nhưng nhiều bản copy của Cậu bé khóc đã xuất hiện bên ngoài nước Anh và người ta không rõ có bao nhiêu người vẫn đang sở hữu bức tranh và những tai họa mà nó gây ra.

Đi tìm sự lý giải

Mặc dù đã có rất nhiều những câu chuyện xảy ra liên quan tới bức tranh bị nguyền này nhưng sự thật về nguồn gốc của bức tranh vẫn còn là điều bí ẩn. Nhiều giả thiết đặt ra để lý giải cho lời nguyền đeo bám bức chân dung này. Và còn rất nhiều lời đồn mê tín xung quanh bức tranh. Một số nguồn tin cho hay người họa sĩ khi vẽ bức tranh này đã thuê một cậu bé mồ côi về làm mẫu và ngược đãi cậu bé đó, chính vì thế trên khuôn mặt của cậu bé luôn hằn chứa một sự thù hận.

Một số người khác lại cho rằng, cha mẹ cậu bé chết trong một trận hỏa hoạn. Cậu bé trở thành kẻ mồ côi và giờ muốn gây ra các vụ hỏa hoạn để trả thù những người khác. Nhưng một số nhà tâm linh học lại lý giải rằng linh hồn của cậu bé bị mắc kẹt bên trong bức tranh, chính vì thế mà nó phải giải phóng năng lượng qua việc phóng hỏa để được… tự do.

Kelvin MacKenzie, biên tập viên tờ The Sun của Anh là người quyết tìm ra sự thật, lý giải cho những sự việc kỳ lạ xung quanh bức tranh. Về nguồn gốc bức tranh, MacKenzie tìm thấy một tài liệu ghi chép lại về thời gian “Cậu bé khóc” xuất hiện. Theo tài liệu đó, bức tranh này do họa sĩ Bruno Amadio vẽ dựa theo ký ức trong lúc cùng gia đình cắm trại ở Tây Ban Nha, tình cờ trông thấy một bé trai đứng khóc nức nở vì không tìm thấy cha mẹ. Với hình ảnh buồn bã trong thất vọng của bé trai này, ông quyết định vẽ một bức tranh với đề tài “Cậu bé khóc”.

Sau đó mặc dù đứa bé đã gặp lại cha mẹ, ông có hứa là sẽ ghé lại lần nữa…Nhưng rồi ông quên mất, lúc chợt nhớ lại lời hẹn ông ta ghé qua thì thấy chiếc xe cắm trại của gia đình đứa bé đã bị cháy rụi. Hỏi thăm thì ông được biết trước đó một ngày chiếc xe bỗng nhiên phát cháy khiến cha mẹ và đứa bé bị thiêu cháy theo.

Một năm sau, lúc vẽ xong bức tranh, họa sĩ treo trong nhà, căn nhà bị cháy trụi với nguyên do rất khó hiểu. Lính cứu hỏa đã rất ngạc nhiên khi dập tắt ngọn lửa, họ phát hiện ra bức tranh nằm trên nền nhà không hề hấn gì. Ngoài ra, từ lúc bắt đầu vẽ bức tranh, gia đình họa sĩ xảy ra nhiều rủi ro và lâm vào hoàn cảnh túng quẫn.

Tuy nhiên, các bức tranh không thể tự phát lửa được. MacKenzie đã tới một phòng thí nghiệm gần Watford, nơi chuyên nghiên cứu các vật cháy và phát cháy. Tại đây, các nhà nghiên cứu đã thử đốt cháy bức tranh “Cậu bé khóc” và kết quả có chút ngạc nhiên.

Chỉ có viền khung tranh bị bắt lửa và cháy sém một góc còn bức tranh vẫn nguyên vẹn. Nhưng kết quả xét nghiệm chỉ ra nguyên nhân của việc các bức tranh luôn tồn tại trong các vụ hỏa hoạn do được làm bằng chất liệu khó bắt lửa, bảo vệ “Cậu bé khóc” không bị phá hủy bởi khói và nhiệt.

Việc xuất hiện “Cậu bé khóc” trong các đám cháy là do ngẫu nhiên bởi bức tranh được in rất nhiều, hầu như các gia đình trong thời gian đó đều sở hữu một bức “Cậu bé khóc”. Còn vấn đề bức tranh không bị phá hủy là vì bức tranh được in trên chất liệu khó bắt lửa nên không thể bị phá hủy.

Cận cảnh những đám mây khiến con người bạt vía

Những đám mây vần vũ trên bầu trời trước cơn bão luôn mang lại cho chúng ta cảm giác sợ sệt. Cùng nhìn ngắm những đám mây “đáng ghét” đó.


Những đám mây đen kịt vần vũ xung quanh, trong khi bụi và mưa bị gió cuốn vào phía trung tâm đám mây.


Đám mây báo hiệu một cơn bão khổng lồ sắp diễn ra tại khu vực đông bắc Nebraska, Mỹ năm 2004.


Một đám mây khác xuất hiện trước cơn bão tại Murdo, Nam Dakota, Mỹ năm 2005.


Đám mây khủng khiếp này đang di chuyển về phía đông nam Fargo, Bắc Dakota, năm 2006.


Một chiếc xe radar thời tiết đang thu thập thông tin của một trận bão lớn tại tây Nabraska năm 2010.


Đám mây báo hiệu một trận bão lớn tại nam Kansas, năm 2004.


Đám mây hình chiếc đĩa trên một cánh đồng rộng bằng cả 1 sân bóng chày.


Một đám mây xoay tròn đang vần vũ trên một đồng cỏ ở phía tây của hạt Rooks, gần Palco, Kansas, Mỹ, năm 2008.


Tia sét khổng lồ xuất hiện gần một cơn bão tại đảo Grand Nebraska, Mỹ, năm 2005.


Nhiếp ảnh gia chuyên chụp ảnh bão Brad Mack đang chụp những bức ảnh sét trong một cơn bão gần thành phố Apache, Oklahoma, Mỹ năm 2012.
Nguồn: www.nguoiduatin.vn

Những di tích bí ẩn nhất thế giới

Thế giới cổ đại luôn kích thích tính tò mò của công chúng, có lẽ chính bởi vì những lời giải thích thú vị tưởng chừng như không thể về việc tại sao những thứ kì lạ này lại tồn tại..
Những di tích bí ẩn nhất thế giới
Những di tích bí ẩn nhất thế giới

Dưới đây là 7 phát hiện khảo cổ luôn đứng top đầu những điều bí ẩn nhất của thế giới cổ đại và đến tận bây giờ, những giả thuyết về sự hình thành của chúng vẫn luôn gây tò mò giới khảo cổ học nói riêng và toàn công chúng nói chung:

1. Gobekli Tepe

Một góc của Gobekli Tepe

Câu hỏi đặt ra: Liệu có phải thực sự vào khoảng năm 8000 trước Công nguyên, con người bắt đầu định cư lâu dài ở một khu vực cố định, sau đó chăn nuôi trồng trọt, rồi mới bắt đầu cho xây dựng các đền chùa? Giả thuyết này luôn được cho là đúng cho đến khi Gobekli Tepe (Potbelly Hill) nằm ở một vùng nông thôn thuộc Thổ Nhĩ Kỳ được phát hiện vào năm 1994. Khám phá khá thú vị này đã hoàn toàn phủ nhận lại giả thuyết nói trên, và đặt ra nhiều câu hỏi mới về sự hình thành và phát triển của nền văn minh nhân loại.

Gobekli Tepe có nhiều vòng đá khổng lồ bao quanh, được khắc hình các con vật và có từ thiên niên kỉ thứ 10 trước Công nguyên, và được xem là nơi thần thánh thiêng liêng lâu đời nhất thế giới. Các bằng chứng cũng cho thẩy rằng ngôi đền này được xây bởi những thợ săn bán du mục và họ không hề biết gì về trồng trọt chăn nuôi trong khi đó phải đến 5 thế kỉ sau, nông nghiệp mới bắt đầu có ở khu vực này. Việc phát hiện ra Gobekli Tepe đã lật lại vấn đề về việc liệu con người định cư trước rồi mới cho xây dựng những nơi thần thánh hay ngược lại: chính những nơi linh thiêng này mới là nguyên nhân con người đến định cư?

2. Kim tự tháp cổ đại
Kim Tự Tháp Ai Cập cổ đại.

Không thể phủ nhận rằng những thông tin giới khảo cổ biết được về các Kim tự tháp Ai Cập luôn gây thú vị và tò mò, tuy nhiên, lượng thông tin này vẫn chưa thể nói lên được gì nhiều về những điều bí ẩn vẫn chưa được khám phá ra ở các Kim tự tháp cổ đại này.

Được cho xây dựng vào khoảng 5.000 năm trước ở khu vực nay là thủ đô Cairo, bộ ba Kim tự tháp với Kim tự tháp lớn nhất là Khufu được xem là nơi những người Ai Cập cổ đại tỏ lòng tôn kính với các vị Pharaoh của mình, và là minh chứng cho niềm tin của họ về thế giới sau khi chết.

Các nhà khảo cổ vẫn đang trong quá trình khám phá những đường hầm mới trong các Kim tự tháp này và tìm kiếm những tài liệu về việc ai đã xây dựng những tượng đài hùng vĩ này, làm thế nào và tại sao chúng vẫn có thể đứng sừng sững giữa lòng thủ đô cho đến tận ngày nay trong khi các kỳ quan cổ đại khác bây giờ chỉ còn là tàn tích.

3. Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca
Một trong những hình vẽ ở Nazca.
Nếu đứng ở mặt đất, nhìn những đường kẻ trên cao nguyên Nazca ở Peru chẳng có gì đặc biệt, tuy nhiên, nếu nhìn từ không trung, các hình vẽ này có thể khiến người ta choáng váng.

Các đường kẻ tạo thành hàng trăm hình thù khổng lồ về các con vật, cây cối và những hình ảnh tưởng tượng. Chúng có cách đây trên 2.000 năm, được người từ thời tiền văn hóa Inca tạo nên. Điều bí ẩn ở đây là tại sao họ lại tạo ra những đường vẽ khổng lồ như thế này. Dường như các đường vẽ này có liên quan đến tập tục thần thánh theo nền văn hóa nơi đây. Tuy vậy, hiện có khá nhiều giả thuyết cho rằng đây là nơi người ngoài hành tinh hạ cánh hay chúng có liên quan đến thiên văn học cổ đại.

4. Cỗ máy Antikythera



Mặt trước và sau của Cỗ máy Antikythera.
Tưởng chừng như chỉ là một thứ chỉ có trên phim ảnh, cỗ máy Antikythera đã được phát hiện nằm trong đống đổ nát của một tàu hàng Hy Lạp bị đắm, có niên đại khoảng 2.000 năm tuổi. Cổ vật hình tròn bằng đồng thiếc này có cả một mê cung gồm các bánh răng khớp vào với nhau, và những đường nét bí ẩn được khắc ở mặt phía ngoài.

Cỗ máy Antikythera này vốn được cho là một loại kính lục phân thời xưa, dùng trong ngành hàng hải, nhằm để đo độ cao của thiên thể. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ hiện biết được rằng cổ vật phức tạp này này thực chất được dùng như là lịch thiên văn học, và vẫn đang tiếp tục tìm hiểu xem cách dùng nó như thế nào. Tính đến thời điểm bây giờ, cỗ máy Antikythera là thiết bị tinh vi nhất từng được khám phá vào thời kỳ đó, và những vật thể tương tự nó phải đến 1.000 năm sau đó mới xuất hiện.

5. Bẫy động vật

Ảnh bẫy động vật chụp từ Google Earth.

Nhiều tường đá thấp đan chéo nhau nằm trên các vùng sa mạc ở Isael, Ai Cập và Jordan vẫn đang làm đau đầu giới khảo cổ học, kể từ khi chúng được các phi công phát hiện lần đầu tiên vào đầu thế kỷ 20. Những tường thành thấp này có từ năm 300 trước Công nguyên, dài lên đến 64km, và được các nhà khoa học đặt tên là “cánh diều” theo như hình dáng của chúng nhìn từ trên cao, tuy nhiên, chúng đã bị bỏ hoang từ khá lâu.

Theo nghiên cứu gần đây nhất, các “cánh diều” này được xây lên nhằm mục đích đưa các loài động vật hoang dã vào một cái hố nhỏ, nơi đó chúng sẽ bị giết hàng loạt. Hệ thống hiệu quả này đã chứng minh được một điều rằng thợ săn ngày xưa hiểu rõ về hệ động vật hơn người ta vẫn nghĩ.

6. Stonehenge

Stonehenge, là một trong những cột mốc nổi tiếng nhất trên thế giới.

Đứng hùng dũng giữa cánh đồng hiền hòa ở Anh, công trình tiền sử nổi tiếng dưới cái tên Stonehenge, là một trong những cột mốc nổi tiếng nhất trên thế giới.

Vòng đá cự thạch Stonehenge có xấp xỉ 4.000 năm trước và là một kỳ công ấn tượng của những người nguyên thủy đã xây dựng nên nó. Và đó cũng là tất cả những gì mà hiện tại các nhà khảo cổ biết được về Stonehenge. Chưa hề có một lý thuyết nào về mục đích của Stonhenge cho dù nó là đài quan sát thiên văn học thời xưa, hay là một đền thờ tôn giáo mà được làm bằng đá.

7. Thành phố Atlantis



Thành phố bị lãng quên Atlantis vừa được tìm thấy ở Bahamas, quần đảo Hy Lạp, Cuba và thậm chí cả Nhật Bản.

Theo mô tả của nhà sử học người Hy Lạp cổ đại vào năm 360 trước công nguyên, hòn đảo huyền thoại được cho là có sức mạnh hải quân vượt trội trước khi nó bị chìm xuống đáy biển vào khoảng trên 10.000 năm trước sau một thảm họa gây ra bởi sự phun trào núi lửa.

Các nhà khoa học hiện vẫn đang tranh luận về sự tồn tại lịch sử thật sự của hòn đảo này cũng như vị trí hợp lý của nó nếu nó thực sự tồn tại. Tuy nhiên, do thiếu bằng chứng khẳng định, cũng như nhiều bí ẩn khảo cổ khác trên khắp hành tinh, thành phố Atlantis vẫn đang tiếp tục thu hút sự tưởng tượng của nhân loại.
Nguồn: www.xaluan.com

Giải mã cảm giác bị "hồn ma theo dõi"

Đã bao giờ bạn ở một mình và đột nhiên cảm thấy mình đang bị theo dõi bởi một ai đó từ phía sau lưng, điển hình là khi ngủ một mình vào ban đêm? Bạn liên tục giật mình quay lại nhưng không hề thấy gì hết, trong người bạn bắt đầu dâng trào cảm giác bất an như thể mình đang bị theo dõi và bám theo dù chẳng có bất kì ai thực sự ở đó cả. Đây thực sự là một trải nghiệm khá căng thẳng và đáng sợ, đặc biệt đối với những người yếu bóng vía, họ cảm thấy như thể mình đang bị ma ám vậy.


Đừng lo lắng, cảm giác mình đang bị ai đó theo dõi và nhìn theo chỉ là một cơ chế hoạt động theo bản năng của con người được hình thành và hoàn thiện trong quá trình tiến hóa. Nó giúp chúng ta cảnh báo cũng như sẵn sàng phản ứng lại một điều gì đó có khả năng tác động vào mình trước khi nó thực sự xảy ra. Hiện tượng nào thường xảy ra khi mà sự cảnh giác của chúng ta dựa vào thị giác bị vô hiệu hóa bởi bóng tối chẳng hạn.


Kết quả nghiên cứu mới đây của giáo sư Colin Clifford, chuyên ngành tâm lí học tại Đại học Sydney, đã cho thấy trong cơ thể con người tồn tại một cơ chế lí tính khiến họ tin rằng mình đang bị ai đó theo dõi. Một cái nhìn trực tiếp cũng có thể báo hiệu một mối nguy hiểm và nếu bạn nhận ra điều này, bạn sẽ chẳng muốn lơ là với mối hiểm nguy đó dù cho nó thực sự không tồn tại. Vì thế, não bộ sẽ tự nhận định rằng bạn đang ai đó theo dõi như là một giải pháp phản ứng an toàn và đơn giản.


Để chứng minh kết luận này, vị giáo sư đã nhờ một nhóm tình nguyện viên để xác định xem cả nhóm đang tập trung nhìn về hướng nào trong điều kiện không thể nhận biết rõ ràng những người xung quanh mình đang chú ý vào đâu. Ngay cả khi không diễn tả được hướng nhìn của mình, những người tham gia đều có cảm thấy dường như mình đang bị ai đó theo dõi. Giáo sư Colin hi vọng các nghiên cứu sâu sắc hơn sẽ giúp xác định được đây là một hành vi được học theo hay là một đặc tính di truyền. Qua đó, chúng ta có thể tìm ra lí do khiến một số người tự kỉ lại trở nên khó nói chuyện khi bị ai đó nhìn vào hay tại sao những người hay lo lắng lại có tần suất cảm thấy bị theo dõi nhiều hơn bình thường.
Nguồn: khoahoc.com.vn

Bị rắn độc ‘trả thù’ dân tình khiếp sợ

Thấy rắn giãy mạnh rồi nằm im, người đàn ông 54 tuổi định bắt bằng tay thì không ngờ nó vẫn sống, quay đầu cắn “trả thù”.

Tối ngày 16/12, khoa cấp cứu Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang tiếp nhận ông Nguyễn Hồng Hớn ngụ xã Bình Long, huyện Châu Phú (An Giang) trong tình trạng ngưng tim, ngưng thở vì bị rắn cắn.

Người nhà cho biết hôm qua ông Hớn đi công việc ở TP Long Xuyên. Về đến thị trấn An Châu (Châu Thành, An Giang) phát hiện con bò sát màu nâu đen, to bằng bắp tay bò ngang quốc lộ 91, ông Hớn tìm cách đánh xe máy cán lên.


Thấy rắn giãy mạnh rồi nằm im, người đàn ông 54 tuổi quay lại bắt bằng tay vì tưởng con bò sát đã chết, không ngờ nó vẫn còn sống, quay đầu cắn “trả thù”.

Nghe ông này kêu cứu, người dân ấp Hòa Long 3, thị trấn An Châu chạy ra đường soi đèn đập chết rắn độc rồi cho vào túi nilon chuyển theo bệnh nhân lên bệnh viện. Ngay trong đêm ông Hớn được tiêm huyết thanh kháng độc, cho thở máy nhưng đến trưa ngày 17/12 vẫn còn hôn mê vì độc tố đã tấn công vào hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hệ hô hấp, liệt cơ chi và cơ tim.

Qua kiểm tra, đây là rắn hổ đất, nặng 3 kg, dài khoảng 1,5 m.
Ngọc Huỳnh

Phát hiện mộ thật của bạo chúa Trung Quốc

Ngôi mộ của Tùy Dạng Đế, một trong những vị hoàng đế nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc vừa được phát hiện hôm Chủ nhật, 14/4 tại một công trường xây dựng ở Dương Châu, tỉnh Giang Tô, trong khi một ngôi mộ giả đã nhiều năm từng là một điểm thu hút các du khách.
Các nhà khảo cổ học từ khắp Trung Quốc đổ xô đến Dương Châu và khẳng định ngôi mộ vừa tìm thấy tại Tây Hồ, thị trấn của huyện Hanjiang chính là ngôi mộ của Dương Quảng (tức Tuỳ Dạng Đế), người được coi là một trong những hôn quân tồi tệ nhất trong lịch sử Trung Hoa.

Ngôi mộ mới được tìm thấy.

Nói chung, các sử gia Trung Quốc đều viết chế độ độc tài của Dương đưa nhà Tùy (581-618) đến bước suy vong. Tuy nhiên, ông cũng đã hoàn thành được một số công trình xây dựng lớn, trong đó có kênh Đại Vận Hà và tái thiết Vạn Lý Trường Thành.

Theo ông Shu Jiaping, giám đốc Phòng khảo cổ Dương Châu, các dòng chữ trên một viên thuốc được tìm thấy trong ngôi mộ chứng tỏ chủ nhân của nó là Dương Quảng.

Ông Shu cho biết: "Lăng mộ của Dương không sang trọng bằng mộ người giàu bình thường dưới triều Tùy, vì ông bị chết đột ngột khi đang chạy trốn khỏi cuộc khởi nghĩa tại Giang Đô, tức Dương Châu ngày nay".

Ngôi mộ theo hướng Bắc - Nam dài 4,98m, hướng Đông - Tây dài 5,88m.

"Ngôi mộ đã bị bọn trộm cướp “ghé thăm”. Mái của ngôi mộ cũng bị hư hại vì một số nhà ở đã xây đè lên”, ông Shu nói.

Mặc dù ngôi mộ đã bị đào trộm, vẫn tìm thấy bốn hạng mục có giá trị mà các thành viên trong gia đình hoàng gia xưa kia đã sử dụng, trong đó có những tay nắm cửa hình con sư tử đúc bằng vàng và sắt, và một chiếc đai ngọc dát vàng.

Tuy nhiên, theo Phòng khảo cổ học địa phương, không thấy có các di vật tuỳ táng và bất cứ phần nào của chiếc quan tài.

Việc phát hiện ra ngôi mộ quả là một điều hạnh phúc bất ngờ đối với những người dân sống gần đó.

"Chúng tôi nghe nói các công nhân xây dựng tìm thấy nhiều viên gạch tại hiện trường, mà họ cho là đó chỉ là một ngôi mộ cổ bình thường", Zhou Jian, một người dân địa phương nói. "Tôi chẳng bao giờ nghĩ mình lại là hàng xóm của một vị hoàng đế cổ đại, thậm chí lại rất nổi tiếng".

Các nhà khảo cổ cũng phát hiện một ngôi mộ gần đó, mà họ cho rằng có thể là của một trong những hoàng hậu của Dương.

Việc phát hiện này đã chứng minh rằng khu lăng mộ, cách công trường xây dựng khoảng 6km và trước đây đã được cho là nơi chôn cất của Dương từ thời nhà Thanh (1644-1911), là lăng mộ giả, ông Shu nói.

So với ngôi mộ mới phát hiện, "lăng giả" chiếm một diện tích 30.000m vuông, có mái vòm, cửa ra vào và tường bao quanh rất hoành tráng.
Theo Vietnamnet

Bàn chân khổng lồ nghi của dã nhân chân to

Hai thiếu niên Mỹ phát hiện bàn chân ngoại cỡ đang phân hủy trong một khu rừng và cảnh sát nghi đó là bàn chân của dã nhân.
Bàn chân ngoại cỡ nằm trong một khu rừng ở ngoại ô thị trấn Quincy, bang Massachusetts, Mỹ. Cảnh sát nghi ngờ nó là một bộ phận của dã nhân, Discovery News đưa tin.

"Vào ngày 29/3, trung sĩ Steven Leanues đã xem bàn chân hoại tử mà hai thiếu niên thấy bên lề đường Pantheon thuộc khu rừng ở thị trấn Quincy. Cảnh sát trưởng Frank Alvihiera đã gửi bàn chân tới một chuyên gia y tế để kiểm tra. Vị chuyên gia nói nó không phải là bàn chân người, dù nó có 5 ngón", báo Patriot Ledger dẫn lời lực lượng cảnh sát địa phương.
Chuyên gia y tế khẳng định bàn chân đang phân hủy không phải là chân người, mặc dù nó có 5 ngón. (Ảnh: Discovery)
Chuyên gia y tế khẳng định bàn chân đang phân hủy không phải là chân người, mặc dù nó có 5 ngón. (Ảnh: Discovery)

"Người tuyết", "người rừng", "dã nhân" là tên mà người dân Bắc Mỹ dùng để gọi những sinh vật bí ẩn có hình dạng giống vượn với thân hình đầy lông. Vô số câu chuyện về chúng xuất hiện trên các báo trong vài thập kỷ qua, song giới khoa học chưa tìm ra bằng chứng đáng tin cậy nào để chứng minh sự tồn tại của chúng. Phần lớn nhân chứng trong các câu chuyện nói rằng họ thấy những dấu chân người rất to, hoặc những tổ lớn bằng cành cây trong rừng.

Tiến sĩ Melba S. Ketchum - một chuyên gia của tổ chức DNA Diagnostics tại thành phố Nacogdoches, bang Texas, Mỹ - từng tuyên bố rằng, trong vài năm qua bà và nhiều đồng nghiệp đã phân tích và so sánh DNA trong 20 mẫu lông, máu, nước tiểu, nước bọt của những động vật mà người ta nghi là dã nhân chân to.

Trình tự gene trong DNA của các mẫu lông cho thấy, DNA ty thể của dã nhân chân to và của người giống hệt nhau, song những DNA trong nhân của nhiễm sắc thể lại chứa cả gene của người hiện đại lẫn gene của một loài linh trưởng mà giới khoa học chưa từng biết.

Do DNA ty thể chỉ truyền từ mẹ sang con nên rất có thể dã nhân chân to là một loài có quan hệ họ hàng với người. Những con đực thuộc một loài linh trưởng nào đó đã giao phối với phụ nữ thuộc loài người từ 15.000 năm trước và sinh ra dã nhân chân to.
Theo VNE

Sự thật về hủ tục thiêu trinh nữ tế thần


Nữ thần quyền năng Pônagar từng được các bậc vua chúa Champa ngày trước dâng cúng vàng bạc
Nhắc đến Khánh Hòa, người ta thường liên tưởng đến vùng non nước xinh đẹp tựa chốn bồng lai. Có mấy ai ngờ được nơi này từng tồn tại hủ tục ghê rợn - thiêu sống người - để làm vui lòng quỷ thần.
Đây không phải là chuyện hoang đường, giật gân mà là chuyện có thật. Ở cái thời mộng muội ấy, người ta tin rằng việc "cúng người" cho thủy thần sẽ giúp họ xuôi chèo mát mái khi lênh đênh giữa đại dương và bội thu mùa vụ. Cũng may là chuyện kinh hoàng ấy nay chỉ còn trong hồi ức của những người già…

Kinh khiếp không kém gì hủ tục dọ-tơm-amí (chôn sống trẻ sơ sinh theo người mẹ đã chết ở một số tộc người trên đất Tây Nguyên), ngay khi hay tin về tục lệ dâng cúng và hỏa thiêu trinh nữ gắn liền với đồi Cù Lao - nơi tọa lạc cụm tháp cổ Pônagar hơn 1.000 năm tuổi, tọa lạc giữa lòng thành phố biển Nha Trang, PV lập tức lên đường...

Cần nói rõ rằng thông tin rùng rợn này được tiết lộ từ ông T.Kính, một người buôn bán đồ cổ có tiếng ở phố cổ vật Lê Công Kiều, quận 1, TP HCM. Theo ông Kính, ông biết được hủ tục quái dị và độc ác kia từ chia sẻ của một người tên là Phước Bồn ở Ninh Thuận. Hỏi thông tin về người này, ông Kính nói rằng đặc thù nghề nghiệp không cho phép ông tiết lộ thông tin khách hàng. Chỉ biết rằng khi giao dịch, trao đổi cổ vật với ông vào đầu năm 2013, trong lúc trà dư tửu hậu, ông Phước Bồn đã tiết lộ cho ông Kính biết được câu chuyện dâng cúng và hỏa thiêu nô lệ là trinh nữ được ghi rõ trên các bia ký cổ ở cụm tháp Pônagar.

"Ông Phước Bồn quả quyết với tôi rằng các bia ký ghi rất rõ lý do, cách thức mà các bậc quyền quý dâng cúng nô lệ cũng như quá trình nô lệ được hỏa thiêu để làm vui lòng các vị thần... Tôi nghĩ đây là thông tin hay, nhưng để làm rõ sự thật đòi hỏi phải rất dày công." - ông Kính, thổ lộ.



Toàn cảnh cụm tháp cổ Pônagar; và tượng thần Siva - nữ thần quyền năng từng được nhiều người hiểu lầm là vũ nữ được tế thần

Trở ngược về quá khứ của hơn ngàn năm trước, từ những lời đồn đại ghi nhận được, chúng tôi rất đỗi kinh ngạc lẫn kinh hoàng khi biết được rằng ngày trước, để giữ vững ngôi báu, để đánh trận toàn thắng, hay chỉ đơn giản để làm vui lòng nữ thần Pônagar và các vị thần quyền năng khác trên "đỉnh đồi vàng" (nơi có thánh đường thiêng linh được Vua Harivarman cho phục hồi, xây dựng kiên cố vào năm 817, đến nay cũng đã gần 1200 năm), các vua Champa cùng những người được xem là hoàng thân quốc thích có tục dâng cúng vàng bạc, ngọc ngà châu báu và nô lệ. Khi bị "tiến cống" cho nữ thần quyền năng, số phận của những nô lệ vô cùng bi đát với cái chết thảm khốc luôn chực chờ…

Chuyện vua chúa Champa dâng cúng của cải, đất đai cho Bà chúa xứ sở Pônagar được chứng minh rất rõ về những lần dâng cho thần linh của cải quý hiếm bậc nhất của vua Champa cùng những người trong hoàng tộc. Lúc bấy giờ những tư liệu cổ mà chúng tôi tiếp cận không thấy đề cập đến chuỵên "cúng" và thiêu người. Thế nên có hay không câu chuyện người tế người trên đỉnh đồi vàng? Có hay không chuyện vào những khi hành lễ, nô lệ là trinh nữ sẽ bị giết hại, bị ném xuống vực sâu? Và có hay không chuyện không ít nô lệ bị chôn sống cùng những của cải, báu vật mà các triều vua Champa dâng cúng cho các vị thần linh trên "đỉnh đồi vàng"…?

Những khúc mắc ấy đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu sự thật. Càng vào cuộc càng rõ được rằng về cơ bản, đó chỉ là những truyền thuyết được lưu truyền theo kiểu miệng truyền miệng trong nhân gian, hay chỉ là những hồi ức qua lời kể từ cha ông của những người già nên chẳng mấy cơ sở thuyết phục. Không ít người khi biết chuyện cho rằng đó chỉ là những đồn đoán vô căn cứ, hoang đường bởi chẳng có văn tự, hình ảnh gì thể hiện tục ấy.

Ông Cham Sanh, 56 tuổi, nghệ nhân vỗ trống paranưng - loại trống cổ dùng trong ngày đại lễ, cho rằng nếu có tục dâng cúng nô lệ gắn liền với những cuộc hành quyết thì hẳn là người ta đã tìm thấy xương cốt của những nô lệ xấu số quanh khu đền tháp. Đằng này hàng trăm năm qua, chưa thấy có bất kỳ ghi nhận nào đề cập đến việc tìm thấy cốt người trên đỉnh đồi Cù Lao hay tại các khu vực rải rác dưới chân cụm tháp cổ.

Gắn truyền thuyết với thực tại, khi chẳng có gì để minh chứng cho hủ tục cúng tế người ở Tháp Bà Pônagar, giữa lúc định khép lại sự việc thì may sao, chừng như biết được nỗi băn khoăn, tiếc nuối của hậu thế trong việc cố gắng vén tấm màn bí mật gắn liền với tháp cổ ngàn năm nên nữ thần Pônagar đã "cho" chúng tôi tiếp cận được những tài liệu quý báu về bản dịch của hai nhà nghiên cứu người Pháp là Karl-Heinz Golzio và R.C.Mạumdar (bản dịch tiếng Anh) có nhắc đến tục dâng cúng nô lệ cho nữ thần ở Pônagar, được thể hiện qua những bia ký bằng chữ Chăm cổ được các học giả tìm thấy quanh cụm tháp hơn 1.000 năm tuổi. Những tư liệu này thể hiện vua chúa Chăm ngoài những vàng bạc, ngọc ngà còn dâng cúng cho nữ thần nhiều đất đai và hẳn nhiên, có cả những nô lệ.

Bia ký gồm 4 dòng về triều Vua Ratnavali năm 1197 saka (niên kỷ theo lịch Chăm) được khắc trên mặt C trụ cửa bên trái của một tòa tháp nay đã lụi tàn, có nói về những lần vua chúa dâng cúng vật báu và nô lệ cho nữ thần: "Những cánh đồng ở hai nơi, tại Panran giá trị 50 jak, những cánh đồng của Yan Vatuv trị giá 50 jak. Những cánh đồng ở Huma Padan, 100 jak. Những cánh đồng trên và các nô lệ cùng tất cả đồ vật được ghi lên đây, Công chúa Ratnavali đã dâng tất cả những người và vật trên cho nữ thần Bhagavati matrlingesvari vào năm saka 1197".

Chuyện cúng nô lệ cho nữ thần rõ hơn dưới thời Vua Indravarman IV (thế kỷ XII): "Kính lạy thần Siva. Đây là sự kết án đối với Padyop, kẻ đã nói những điều ác. Đức ngài Indravarman, Hoàng tử Sri Harideva xứ Sila-vandha-vijaya hiến dâng cho thần Sri Indravarmasivalingesvara 3 đứa trẻ tên là Mok, Yan và Krana của bà bẹ Padyop".

Tấm bia ký không nói rõ 3 đứa trẻ kia bị dâng cúng cho thần Siva để phục dịch cho các thần vì chúng gây tội và bị bắt trừng phạt, hay vì giữa chúng có mối liên hệ tâm linh nào đó giữa người phàm với các vị thần nhưng qua tìm hiểu sơ bộ, chúng tôi được biết 3 đứa trẻ được dâng cho thần kia là con nhà quyền quý có cha mẹ gây lỗi lầm với triều đình. Cần nói rõ đây chỉ là đoán định nhưng chúng tôi có niềm tin cho cơ sở ấy, nhất là khi dòng bia ký có nhắc đến những cụm từ liên quan đến sự trừng phạt này: "Đây là sự kết án đối với Padyop, kẻ đã nói những điều ác".

Chiếu theo ghi chép cổ xưa kia thì nô lệ được dâng cúng cho nữ thần phần lớn là trẻ em. Nhưng từ cuộc dâng cúng của Công chúa Suryadevi (niên đại 1189 saka), "viên ngọc tuyệt hảo của triều đình ở Manahvijaya, con gái Đức vua Jaya Indravarmadeva Paramodbhava và Hoàng hậu Sri Paramaratnastri", mới rõ giới quý tộc ngày trước còn dâng cúng những con voi, các nô lệ nam và nữ cùng các cánh đồng… "Vào năm saka 1178, Công chúa Ratnavali quý phái dâng cho nữ thần Punagara một tharan bạc nặng 15 thil, một đồ trang sức đeo ngực bằng vàng nặng 1 thil 5 dram, một vòng đeo cổ bạc 15 thil. Rồi thì sau đó, quý bà Pulyan Ratnavali đã cho xác lập những quy định đối với các Devadasi (các vũ nữ) chuyên phục vụ và làm vui cho nữ thần Punagara".

Bên cạnh các bia ký bằng chữ Chăm, các nhà nghiên cứu, chuyên gia khảo cổ còn tìm thấy nhiều bia ký được khắc bằng chữ Sansrit - một kiểu chữ cổ của người Champa. Trong những bia ký này, có nhiều bia ký đề cập đến việc dâng cúng vàng bạc, châu báu và nô lệ cho các vị thần.

Bia ký số 2 triều Vua Harivarman I, niên đại 739 saka (817 sau CN) khắc trên mặt thứ 3 chiếc trụ cửa của ngôi đền với 31 dòng bằng chữ Sanskrit: "Vào năm Saka 739, tháng Jyaistha, ngày nhật thực, để đảm bảo cho những giá trị tôn giáo trên thế giới, vì thanh danh trên thế giới này và vì sự cứu rỗi ở thế giới bên kia, sau khi cho làm pho tượng nữ thần mới bằng đá và trang điểm cho tượng những đồ trang sức khác nhau, đức vua đã lại xây dựng đền thờ Linga Sandhaka, đền thờ Sri Vinayaka và đền thờ Sri Maladakuthara, và ngài đã trang hoàng cho khu đền bằng những mandapa (những gian phòng) và những chiếc cổng đẹp lộng lẫy! Đức vua còn dâng cho Mahabhagavati vàng, bạc, châu ngọc, vải vóc các màu khác nhau và những đồ vật khác. Sau đấy, ngài còn dâng cho Đại nữ thần ruộng đồng ở vùng quê Kauthara (Khánh Hòa ngày nay - PV) cùng những nô lệ đàn ông, đàn bà, bò trâu…".



Nữ thần quyền năng Pônagar từng được các bậc vua chúa Champa ngày trước dâng cúng vàng bạc

Dù đã cất công tìm hiểu nhưng chúng tôi chẳng tìm thấy ghi chép cổ nào của người Chăm xưa đề cập đến việc sau khi được dâng cúng cho nữ thần, số phận của các nô lệ gồm trẻ em, trinh nữ sẽ ra sao. Họ sẽ bị giết hại để linh hồn vĩnh viễn hầu thần, hay một khi bị dâng cúng, họ sẽ phải hầu hạ các vị thần được thờ phụng trên cụm tháp cổ Pônagar đến suốt cuộc đời.

Những khúc mắc này của hậu thế đã được Vua Sri Satyavarman giải đáp sau khi vị vua này "dâng cúng cho vị chúa tể của đức bà Bhagavati kho lúa Vamdhaun, kho lúa Ktun và kho lúa Narai cùng nhiều phụ nữ": "Những người đàn ông nào mà bảo vệ những của cải thuộc về vị chúa tể của nữ thần thì những người đó sẽ được toại nguyện trên thiên giới, nghĩa là được vui thú cùng vô vàn các thần linh và những hộ thần bảo vệ thế giới. Ngược lại những ai mà lấy đồ đạc đó đi thì sẽ bị đày xuống địa ngục Avici cùng các tổ tiên của họ".

Vậy đã rõ sự thật về tục dâng cúng nô lệ cho thần linh của các vua chúa Champa ngày trước. Chẳng như lời đồn đại trong dân gian rằng nô lệ được dâng cúng thần là trinh nữ, ghi chép trên các bia ký bằng đá cho thấy vua chúa Chăm ngày trước dâng cho vị thần quyền năng những nô lệ gồm trẻ em, đàn ông và đàn bà.

Và cũng chẳng như những lời đồn đại rằng sau khi được tế thần, số phận của các nô lệ rất bi thảm khi bị thiêu sống để làm đẹp lòng nữ thần quyền năng, ghi chép trên bia ký bằng chữ Sanskrit của Vua Sri Satyavarman cho thấy nô lệ được dâng cúng không hề bị giết hại, họ chỉ có "nhiệm vụ" bảo vệ của cải thuộc về vị chúa tể của nữ thần. Và nói không chừng, đây là vinh dự, là cơ may bởi nếu làm tốt nhiệm vụ ấy, họ "sẽ được toại nguyện trên thiên giới, nghĩa là được vui thú cùng vô vàn các thần linh và những hộ thần bảo vệ thế giới". 
 Theo Thành Dũng (An ninh Thế giới)

Những bí mật thú vị về nữ sumo thời xưa

Bị cho là không thanh sạch, nữ giới Nhật Bản bị cấm tham gia môn sumo. Còn ở Trung Quốc, nhiều mỹ nữ ngọc ngà trở thành nữ võ sĩ sumo để mua vui cho vua chúa.

Võ sumo được người dân Nhật Bản tôn vinh là “quốc kỹ” (môn thể thao mang tính biểu tượng quốc gia), do vậy, trước đây, chỉ phận nam nhi mới xứng đáng đứng trên võ đài của môn đấu võ cao quý này. Các vận động viên sumo từ xưa tới này đều nhận được đãi ngộ vô cùng hậu hĩnh.

Hình ảnh võ sĩ sumo là nam giới đã quá quen thuộc với làng thể thao thế giới, nhưng các nữ sumo vẫn rất hiếm hoi. Ngoài quan niệm truyền thống nữ nhi “bất khiết”, người Nhật Bản còn cho rằng, đặc thù của cơ thể nữ giới không phù hợp với môn võ cổ truyền này. Do vậy, việc cách ly phụ nữ khỏi vũ đài thi đấu sumo luôn được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Nếu một phụ nữ bước vào vòng tròn trên võ đài – nơi vốn được coi là linh thiêng sẽ bị coi là một sự sỉ nhục vì đã làm ô uế nơi này. Vì thế, chuyện phụ nữ trở thành võ sĩ sumo cực kỳ hiếm hoi.


Một hình ảnh hiếm hoi về nữ sĩ Sumo Nhật Bản.

Fusae Ota, nữ thị trưởng đầu tiên của Nhật Bản vào ngày 28/2 vừa qua tuyên bố bà muốn đứng trên võ đài để trao thưởng cho những người giành chiến thắng trong giải vật sumo tổ chức vào tháng 3, nhưng bà đã bị từ chối thẳng thừng. Mãi tới tháng 10/2002, thành phố Aomori, Nhật Bản mới được đăng cai tổ chức giải vô địch sumo quốc tế đầu tiên dành cho nữ giới.


Giải vô địch sumo quốc tế đầu tiên dành cho nữ giới 
được tổ chức tại Aomori

Nếu như Nhật Bản có cái nhìn hà khắc với phụ nữ trong môn võ cổ truyền này, thì nữ võ sĩ sumo thực chất đã tồn tại trong xã hội phong kiến Trung Quốc rất xa xưa. Thời Tống, các nữ võ sĩ sumo được gọi là các võ sĩ giác lực, về sau đổi tên thành võ sĩ đấu vật.

Và môn võ này được xem là một hình thức giải trí rất được ưa chuộng trong xã hội phong kiến. Không chỉ thịnh hành ở triều Tống, thời Tam Quốc cũng có loại hình đấu võ này. Các đợt tuyển mỹ nữ vào cung thường chọn đến 5.000 người. Để tận dụng mua vui cho hoàng tộc, tầng lớp thống trị bèn nghĩ ra hình thức đấu võ dành cho các cung nữ. Phần thưởng dành cho các nữ đấu sĩ là ngân lượng do vua ban tặng.


Quan quân tụ tập xem cung nữ đấu võ.

Và để tham gia trò chơi này, các cung nữ thời xưa phải lột bỏ xiêm y diêm dúa điệu đà, nên môn võ này còn có tên gọi dân dã khác là “lõa hý”.


Các nữ sumo hiện nay được tham gia sàn đấu 
trong trang phục đặc trưng với phần ngực được che chắn cẩn thận.

Hiện nay, sumo đang được Nhật Bản đề nghị đưa vào hạng mục thi đấu chính thức tại Olympic nên ngày càng nhiều phụ nữ, kể cả các bé gái tại nhiều quốc gia tham gia luyện tập môn thể thao truyền thống này. Để tránh bị chấn thương vùng ngực, trang phục dự thi của các nữ sumo cũng có nhiều điểm khác xa so với các võ sĩ nam. Ngoài ra, các nữ sumo không được dùng đầu để tấn công đối thủ. Trong các vòng thi đấu của nữ đều được phân hạng cân, do vậy, các nữ sumo không nhất thiết phải đạt thể trọng khổng lồ như nam giới.
NGuồn: luubuttuoixanh.com ( Tổng hợp)

Học thuyết kinh hoàng khiến hàng trăm ngàn người bị giết

Đây là một trong những học thuyết gây tranh cãi nhất thế giới, nó khiến hàng trăm ngàn người bị giết, triệt sản hoặc giam giữ...
Có vô vàn những học thuyết được các nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra. Có những học thuyết đem lại cho nhân loại giá trị to lớn nhưng bên cạnh đó, có những học thuyết mang đến vô vàn hệ lụy đáng sợ. Thuyết ưu sinh là một trong những thuyết như vậy. 

Đây là một trong những học thuyết gây tranh cãi nhất của thế giới, nó khiến hàng trăm ngàn người bị giết, bị triệt sản, bỏ tù...

Thuyết ưu sinh là gì?
Thuyết ưu sinh (eugenics) là học thuyết nổi tiếng những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Học thuyết cho rằng, các chủng tộc loài người có thể cải tiến bằng cách nhân giống chọn lọc có kiểm soát, tạo ra những đứa trẻ với đặc điểm mong muốn, tính trạng hoàn hảo về sức khỏe, vóc dáng, trí tuệ. 


Người đưa ra học thuyết tranh cãi này là nhà nhân chủng học người Anh - Francis Galton. Ông là em họ của Charles Darwin, tác giả của học thuyết tiến hóa vĩ đại.

Sau khi đọc cuốn sách nguồn gốc các loài của anh họ mình, Francis Galton đã nêu ra rằng: “Các cơ chế của chọn lọc tự nhiên, sự tiến hóa có thể bị cản trở bởi văn minh con người. Các xã hội thường bao bọc người yếu kém nhất, dẫn đến sự tụt lùi trong nhiều thế hệ. Chỉ tới khi thay đổi hoàn toàn các chính sách ấy thì xã hội loài người mới thoát khỏi sự tầm thường.”

Nhà nhân chủng học Francis Galton - cha đẻ của thuyết ưu sinh.

Học thuyết này ngay lập tức đã trở thành đề tài tranh cãi và nghiên cứu của các nhà khoa học. Nó cũng nhận được nhiều sự hậu thuẫn bởi các chương trình khoa học ứng dụng và phong trào sinh học. Các nhà ưu sinh học ủng hộ việc sử dụng các phương thức triệt sản nhằm cải thiện cấu tạo gene của dân số loài người. 

Học thuyết tàn bạo
Sau khi được truyền bá rộng rãi trong giới khoa học, thuyết này dần được nhiều chính khách, nguyên thủ quốc gia ủng hộ dùng làm công cụ để “rửa sạch giống nòi”. 

Từ đây, học thuyết này là nguyên nhân khiến rất nhiều người bị ép buộc triệt sản nhằm loại bỏ các cá thể khuyết tật như người bị tâm thần, mù, điếc, phụ nữ có quan hệ tình dục bừa bãi, người đồng tính hay bộ tộc bị xếp vào loại “thoái hóa” hoặc “không đủ tiêu chuẩn” để tồn tại.

Thời bấy giờ, Mỹ là quốc gia đầu tiên đưa các luận điểm của thuyết ưu sinh vào trong luật pháp cho phép triệt sản các cá nhân thoái hóa. Trong giai đoạn 1907 - 1963, 64.000 người bị ép buộc triệt sản theo luật ưu sinh. 

Theo tài liệu mật ghi lại, California là nơi có tỉ lệ triệt sản cao nhất, với khoảng 20.000 ca, chiếm 1/3 trong tổng ca triệt sản ở Mỹ từ năm 1909 tới thập niên 1960. Ý tưởng tạo ra thiên tài và tài năng từ ưu sinh đã được quảng cáo khá rùm beng và được William Graham Sumner - người sáng lập Hiệp hội Xã hội học Mỹ ủng hộ. 

Sumner cho rằng, nếu chính phủ không can thiệp loại bỏ thì những người khiếm khuyết và nhóm tội phạm sẽ sinh sôi nảy nở ngày càng nhiều, tạo gánh nặng cho xã hội. 
Với việc thông qua đạo luật nhập cư năm 1924, các nhà ưu sinh học lần đầu tiên đóng vai trò là cố vấn trong các cuộc thảo luận của Quốc hội về nguy cơ bị "ô nhiễm" bởi “nguồn gene hạ đẳng” do dân nhập cư từ Đông và Nam Âu. Điều luật này đã làm lượng nhập cư vào Hoa Kỳ giảm tới 15% và gây nên những vụ thù hằn lớn giữa các dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, Mỹ, Canada là “cái rốn” nhập cư, nhất là từ Đông và Nam Âu nên 2 nước này đã thông qua các điều luật phân loại thứ bậc quốc tịch. 

Theo đó, những người được ưu tiên nhập tịch là nhóm người Anglo-Saxon và người Nordic mà theo thuyết ưu sinh là nhóm dân số ưu việt nhất của loài người. Trong khi đó, một số dân tộc khác lại bị “soi” kỹ hơn, thậm chí còn bị cấm nhập cư vào Mỹ. 

Cuộc thi cho trẻ con phục vụ cho chương trình triệt sản theo thuyết ưu sinh ở bang Indiana, Mỹ năm 1931.

Thế nhưng đáng sợ hơn cả là ứng dụng của thuyết ưu sinh ở Đức, học thuyết này rất được trùm phát xít Hitler tin tưởng, hắn thực hiện các cuộc thanh trừng, diệt chủng, chọn lọc để tạo ra những người ưu việt nhất. 

Trong thập niên 1930 - 1940, chế độ phát xít đã thực hiện triệt sản ép buộc với hàng trăm nghìn người mà chúng coi là không đủ sức khỏe thể chất và tinh thần. 400.000 người bị triệt sản là con số ước tính trong giai đoạn từ 1934 - 1937 tại đây. Chế độ phát xít còn tàn bạo đến mức ép buộc những người tật nguyền phải chết thông qua chương trình “chết tình nguyện” bằng cách tiêm chất độc Hydro xyanua (HCN).



Hitler từng tuyên bố nhiều lần: “Chúng ta phải tạo ra một giai cấp ưu việt nhất, có khả năng thống trị trong nhiều thế kỷ. Đội quân của chúng ta phải được lựa chọn trên nguyên tắc của học thuyết ưu sinh, để con cái sau này thuộc giai cấp quý tộc của hiện tại và tương lai, không chỉ ở nước Đức mà trên toàn thế giới". 

Theo lệnh của Hitler, nước Đức đã thành lập các "trại giống". Những chàng trai ưu tú trong quân đội, được tuyển chọn qua chu trình cực kỳ nghiêm ngặt, những cô gái hoàn mỹ về ngoại hình, thể lực, về tinh thần và tư tưởng (theo tiêu chuẩn của chủ nghĩa phát xít Đức) đều tập trung tại đây. 

Những chàng trai ưu tú trong quân đội được tuyển chọn qua chu trình cực kỳ nghiêm ngặt.

Họ được chăm sóc, nuôi dưỡng cẩn thận để giao phối với nhau và sinh con. Tất cả nhằm thực hiện và chứng minh học thuyết ưu sinh, tuy nhiên, kết quả thu được khá thất vọng.

Có khoảng 50.000 trẻ em ra đời từ các "trại giống" người “thượng đẳng” này. Sau khi chủ nghĩa phát xít thất bại và tan rã, người ta biết rằng, phần lớn các em nhỏ đó có chỉ số thông minh dưới trung bình. Ngoài ra, số trẻ đần độn nhưng tính tình hung hãn cao hơn mức bình thường đến vài lần. 

Điều này đánh dấu chấm hết cho những tranh cãi còn dai dẳng, xóa nhoà khả năng thực hiện thuyết ưu sinh đối với con người. 

Muôn vàn hệ lụy của thuyết ưu sinh...
Ngoài việc dùng thuyết ưu sinh để phục vụ cho mục đích chính trị, cho ra đời nhiều đạo luật gây phân biệt chủng tộc, làm tăng sự hận thù giữa các quốc gia, việc áp dụng thuyết ưu sinh không đúng mục đích còn tạo ra vô vàn hệ lụy khác. 



Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, ý tưởng thanh trừng chủng tộc của Đức Quốc xã đã bị loài người lên án công khai vì nó mang tính phi đạo đức, đi ngược lại các tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc về quyền con người. Từ đó, thuyết ưu sinh bị gắn liền với chủ nghĩa phát xít mỗi khi được nhắc tới.

Việc thực hiện những mặt tiêu cực của thuyết ưu sinh ngày nay bị liệt vào tội diệt chủng quốc tế. Trong thực tế có không ít người khuyết tật hoặc sức khỏe không tốt mà vẫn thành công trong cuộc sống, trở thành thiên tài như nhạc sĩ Schuman, nhạc sĩ Franciszek Chopin, họa sĩ thiên tài Van Gogh, nhà bác học Newton... Hoặc ngược lại, nhiều người bình thường nhưng lại có những suy nghĩ và hành vi điên rồ như chính Hitler vậy.

Điều này chứng tỏ không phải gene di truyền hoàn toàn quyết định mà nó còn liên quan đến nhiều yếu tố khác như môi trường nuôi dưỡng, chế độ giáo dục, yếu tố tiến hóa và cả những điều mà chính con người đến nay vẫn chưa khám phá hết. Việc đánh giá con người chỉ qua vẻ bề ngoài và cha mẹ của họ thực sự vẫn chỉ là điều ấu trĩ, điên rồ nhất.
Kenh14

Giải mã loài sâu Tử thần khủng khiếp ở Mông Cổ

Những câu chuyện kì bí về loài sâu Tử thần - một loài sâu được người du mục gọi là Allghoi Khorkhoi hay “sâu ruột đầy máu” đã lưu truyền ở Mông Cổ từ hàng nghìn năm nay. Loài sâu này được mô tả có hình dáng tương tự như ống tiêu hóa của một con bò, dài chừng 0,6 tới 1,5 m, thân hình tròn trịa, có màu đỏ tươi và những đốm đen hay mảng đen trên người, trên đầu và ở đuôi có gai.

Truyền thuyết về loài sâu giết người

Sa mạc Gôbi ở châu Á ròng rã màu đá cát đen xám nằm im lìm dưới gió mưa. Đây là một vùng đất rộng và khô với diện tích chừng 1,3 triệu km2 và được xem là một trong những sa mạc lớn nhất thế giới.

Khác với những sa mạc bình thường khác, ở Gobi không chỉ có cát mà còn có cả những dãy núi và các tảng đá khổng lồ.

Nó được tin vốn là một phần của hồ nước hay biển ăn sâu vào nội địa từ 10.000 tới 12.000 năm trước nhưng sau một cơn đại hồng thủy, nước đã bị cuốn trôi hết về phía Nam và phía Tây dẫn tới tình trạng như hiện nay.

Vùng đất khô cằn này được chú ý nhất trong lịch sử như là một phần của Đế quốc Mông Cổ vĩ đại, và là vị trí của một số thành phố quan trọng dọc theo Con đường tơ lụa. Gobi có một lịch sử lâu dài của nơi cư trú của con người, chủ yếu là dân tộc du mục.


Sâu tử thần ở Mông Cổ? 

Đến đầu thế kỷ 20 khu vực dưới sự kiểm soát danh nghĩa của Mãn Châu-Trung Quốc, và nơi sinh sống chủ yếu của người Mông Cổ.

Ngoài những sự bí mật về sự hà khắc của thiên nhiên, sự bền bỉ mà hùng tráng của con người, nơi đây còn lưu truyền một truyền thuyết về một loài sâu thần kì có khả năng giết người.

Những câu chuyện nửa hư nửa thực về loài sâu này, khiến nhiều người rùng mình, nhưng cũng không ít người lên đường kiếm tìm như kiếm tìm sự thật về một truyền thuyết bí ẩn chưa có lời giải đáp.

Dù chưa được tận mắt chứng kiến nhưng họ tin rằng sinh vật này có thể tồn tại và ở đâu đó thuộc những vùng đất khắc nghiệt nằm dọc biên giới Trung Quốc – Mông Cổ.

Truyền thuyết kể lại rằng, loài sâu Tử thần có hình dáng tương tự như ống tiêu hóa của một con bò, dài chừng 0,6 tới 1,5 m, thân hình tròn trịa, có màu đỏ tươi và những đốm đen hay mảng đen trên người, trên đầu và ở đuôi có gai.

Người ta tin rằng, những con sâu Tử thần rất thích màu vàng và những loại thực vật ký sinh ở hoang mạc như cây goyo. Người du mục gọi loài sâu này là Allghoi Khorkhoi hay “sâu ruột đầy máu”, bởi vì nó là một loài sâu khổng lồ có khả năng giết người.

Người Mông Cổ còn truyền nhau câu chuyện về kể về cái chết của một cậu bé trong vùng. Một hôm, cậu bé ở nhà một mình. Trong khi cậu đang chơi ngoài trời với một chiếc hộp màu vàng thì bị một con sâu bí mật chui vào bên trong.

Do không biết, cậu bé đưa tay chạm vào chiếc hộp. Ngay lập tức cậu bé lăn ra chết. Đến khi bố mẹ cậu bé tội nghiệp đi làm về, họ tìm kiếm khắp nơi nhưng không hiểu nguyên nhân nào đã khiến con mình chết. Một người trong gia đình đã phát hiện trên cát còn để lại những dấu vết ngoằn ngoèo vô cùng lớn.

Và cả gia đình cậu bé phát hiện ra sự thật rằng loài sâu tử thần đã đến. Chính nó đã giết cậu bé bằng chất độc bí hiểm của mình.

Theo dấu vết ngoằn ngoèo trên cát để lại, cha mẹ của cậu bé quyết tâm đi tìm con sâu để trả thù. Kể từ lần ra đi đó họ đã không bao giờ quay trở lại nơi họ sinh sống nữa. Người ta đồn rằng, thay vì giết được con sâu, bố mẹ của cậu bé đã bị chính nó giết chết!

Người dân địa phương kể, loài sâu tử thần có một hình dáng vô cùng lạ và đáng sợ. Nó giống như xúc xích, mập như cánh tay người đàn ông, trông giống ruột của một loài gia súc. Đuôi của loài sâu này ngắn nhưng không nhọn.

Người ta không thể xác được được đâu là đầu, đâu là đuôi bởi không thể phân biệt được các phần của con sâu: mắt, mũi, miệng.

Loài sâu tử thần di chuyển rất lạ thường, hoặc cuộn tròn lăn vút đi, hay bò ngoằn ngoèo một bên thân. Nó sống trong các đụn cát hoang vắng và các thung lũng nóng cháy của sa mạc Gobi mà phía dưới là những cây saxaul mọc ngầm.

Điều kì lạ là tất cả những người Mông Cổ, chưa một ai từng được đối diện với loài sinh vật lạ lùng này, nhưng câu chuyện về những con sâu tử thần khổng lồ, về hình dáng của nó đều được từng người một kể lại một cách tỉ mỉ và chi tiết.

Họ tin chắc rằng có một loài sâu như thế tồn tại ở đây và cũng tin nó có hình dáng như họ mô tả.

Cũng theo người dân địa phương, loài sâu này chỉ xuất hiện vào một thời điểm trong năm. Đó chính là lúc mà sa mạc Gô bi nóng nhất, vào tháng sáu và tháng 7.

Sau khoảng thời gian đó, sâu Tử thần sẽ vùi mình trong cát hầu hết các thời gian còn lại trong năm. Và người ta sẽ không thể nhìn thấy nó nữa. Thông thường, sâu Tử thần bò lên mặt đất sau cơn mưa, hoặc những khi đất ẩm và nó ngủ suốt mùa hanh khô trong cát. 

Theo truyền thuyết được những người dân sa mạc Gobi rỉ tai nhau từ hàng ngàn năm qua, loài sâu này có một khả năng kỳ bí như nó có thể phun ra chất độc acid vàng gây chết người ngay lập tức khi tiếp xúc hoặc có thể tiêu diệt con mồi từ xa bằng một luồng điện siêu mạnh.

Những người tin vào sâu Tử thần đều cho rằng việc tiếp xúc với bất kỳ điểm nào trên mình nó đều cực kỳ nguy hiểm. Nọc độc của nó có thể ăn mòn kim loại và có thể giết chết một con lạc đà to khỏe ngay trong chớp mắt.

Một ngày của tháng Sáu và tháng Bảy, những người dân sống trên sa mạc Gô bi thức dậy.

Và họ kinh ngạc khi thấy con lạc đà to khỏe của gia đình nằm đã chết mà không hề có dấu vết của bệnh tật hay bị bắn chết.

Trên cát, những dấu vết ngoằn ngoèo đã nói với họ rằng, sinh vật tử thần đã đến. Cái tên sâu tử thần luôn là nỗi khiếp đảm với tất cả những con người sống ở nơi đây từ hàng nghìn năm qua. Họ luôn lo sợ nó có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và dời đi bất cứ lúc nào, để lại một xác chết.

Hành trình đi tìm loài sâu Tử thần

Vùng đất hoang vu và đầy gió cát này được người châu Âu đến thăm dò từ những thế kỷ 17.

Loài sâu Tử thần lần đầu tiên được những người phương Tây chú ý đến trong cuốn sách có nhan đề “Trên đường đi tìm người cổ đại” của một giáo sư người Mỹ tên là Roy Andrews Chapman xuất bản năm 1926.

Giới khoa học bắt đầu chú ý tới những thông tin nửa thực nửa hư này. Tuy nhiên, nhưng những bí mật về loài sâu tử thần này vẫn là một dấu hỏi lớn đối với nhiều nhà khoa học.

Tháng 8 năm 2009, hai người New Zealand mang theo máy ảnh tới khu vực xa nhất của sa mạc Gobi ở Mông cổ để tìm bằng chứng về sự tồn tại của một loại quái vật mà chưa từng ai bắt được hay chụp ảnh được nó ngoài những câu chuyện truyền miệng và những hình vẽ rợn người hay những thước phim giả tưởng.

Hai nhà khoa học đã lắp đặt các thiết bị theo dõi đặc biệt cho phép ghi lại sự thay đổi nhỏ nhất của cát khi có một con vật to lớn chuyển động trên cát để tìm ra dấu vết của loài sâu Tử thần trong truyền thuyết.

Tuy nhiên, loài sâu tử thần có hình dáng giống như lời miêu tả của người dân địa phương hàng nghìn năm qua không hề xuất hiện. Câu chuyện về loài sâu này vẫn tiếp tục được lưu truyền.

Dưới thời Xô Viết, các nhà khoa học Liên Xô cũng đã từng tổ chức các cuộc tìm kiếm ở sa mạc Gobi và đem về nhiều câu chuyện thần bí.


Sâu tử thần 

Vào tháng 5/2005, các nhà khoa học và thám hiểm thuộc Trung tâm sở thú Fortean, Thế giới kỳ bí và E-Mongol đã bỏ ra một tháng để nghiên cứu các bản báo cáo và tiếp tục truy lùng sâu Tử thần.

Ông Richard Freeman, trưởng nhóm nghiên cứu trên cho rằng, có thể sinh vật lạ này không phải là sâu bởi những con sâu sống được rất cần tới độ ẩm. Nó có thể là một loài bò sát không chân, sống ở dưới mặt đất.

“Nó có thể là thành viên khổng lồ của một nhóm bò sát có tên là thằn lằn giun hay rắn hai đầu”.

Trong thực tế đã có một nhóm động vật này nhưng chúng vẫn chưa được biết tới nhiều do ít được quan tâm nghiên cứu.

Ông Freeman cũng cho rằng mọi người đã quá thổi phòng về năng lực giết người của sâu Tử thần. Ông cho rằng nó giống như con rồng lửa, kỳ nhông của thời Trung cổ, nhưng cực độc.

Sự tồn tại của sâu Tử thần vẫn là một đề tài tranh cãi nóng bỏng mà đến ngày nay các nhà khoa học vẫn chưa thể tìm được câu trả lời.

Tuy nhiên, xét về mặt khoa học, các nhà nghiên cứu cho rằng sâu Tử thần Mông Cổ có thể là một sinh vật mang hai đặc tính của lươn phóng điện và rắn hổ mang phun nọc độc mà không cần cắn tồn tại trên thực tế.

Rất có thể, một loài côn trùng đặc biệt như vậy đã xuất hiện trên sa mạc khắc nghiệt này, và trở thành một nỗi lo sợ suốt hàng nghìn năm qua đối với những con người nơi đây.

Bí mật về loài sâu tử thần có thể sẽ được khám phá trong nay mai, nhưng nỗi sợ hãi của người dân trên sa mạc Gô bi về một thứ ám ảnh vô hình đến từ cuộc sống khắc nghiệt thì vẫn còn, như truyền thuyết về loài sâu Tử thần Allghoi Khorkhoi này.
VTC

"Cặp đôi bóng ma" xuất hiện trong bức ảnh tại Mỹ

Người phụ nữ có tên Marcella Davis cho biết cả cô và con gái đều nhìn thấy hai bóng ma bí ẩn xuất hiện trong bức ảnh chụp ngày 15/4 vừa qua

Ngày 17/4 vừa qua, một người phụ nữ đến từ bang Texas, Mỹ đã hết sức hoang mang khi nhận thấy hai "nhân vật" lạ có mặt trong bức hình chụp cậu cháu trai.

Cậu thanh niên (đội mũ) quay mặt đi trong lúc cô Davis đang bấm máy.

Người phụ nữ có tên Marcella Davis này cho biết, vào ngày 15/4, cô đã chụp cho cậu cháu trai bức ảnh kỉ niệm tại trường Trung học Cleveland, Texas. Nhưng trong lúc đang chụp, anh chàng lại quay mặt đi. Vì vậy, cô Davis chỉ chụp được ngoại cảnh phía sau anh ta. Sau đó, cô Davis cũng không chụp thêm bất cứ tấm nào nữa.

Trước đó vài ngày, con gái của cô Davis đã hướng dẫn cô cách sử dụng tính năng zoom xa, gần của camera điện thoại vì vậy cô đã có thể chụp được bức ảnh rõ nét cho cho cậu cháu vào ngày hôm đó. Và cô bé này cũng là người đầu tiên phát hiện ra hai bóng ma hiện diện trên bức ảnh. Sau đó, cô bé chỉ cho mẹ thấy điểm mờ ảo trên bức ảnh. "Các bạn có thể nhìn xuyên thấu qua bóng ma.", cô Davis nói.

Trong khoảng trống là "cặp đôi bóng ma": một nam và một nữ.

Cô Davis cho rằng đây không phải là một hiện tượng bình thường mà rõ ràng là có hai bóng ma xuất hiện trong bức ảnh. Cô còn miêu tả rõ ngoại hình của "cặp đôi bóng ma" này. Người đàn ông mặc một bộ vest màu trắng, quần ống vẩy. Đứng phía sau bóng ma nam là một bóng ma nữ.

Trả lời phỏng vấn với giới truyền thông, cô Davis cũng đảm bảo rằng mình không chỉnh sửa bức ảnh để tạo scandal.

Cho dù "cặp đôi bóng ma" có thật hay không thì với những người không tin vào ma quỷ thánh thần, họ vẫn cho rằng đây chỉ là một trò đùa mà thôi. Nhưng với cô Davis, sinh tử là chuyện thường tình, và phải đến khi nào con người ta chết đi, họ mới thực sự cảm nhận được thế giới tâm linh là gì.

Bài đăng phổ biến